Nút Zalo
Nhắn tin Facebook
livechat nhắn tin trực tiếp
logo Feed tin tức Avado
logo quay về trang chủ
Kênh Tiktok Avado

Thận hải cẩu cho nam giới có tác dụng và cách dùng như thế nào?

❤️ 0 - 💔 0 - 💬 0 - ℹ️ 311

Hải cẩu thận còn có tên khác thận hải cẩu, thận chó biển,… Thận chó biển là dương vật và tinh hoàn của hải cẩu (Callorhinus ursinus L.), thuộc họ hải cẩu (Otariidae) hay báo biển (Phoca vitulina L.), họ hải báo (Phocidae).

Dược liệu là một nhánh dài khoảng 20cm, rộng khoảng 1cm – 1,4cm, dương vật khô teo, có rãnh nhăn hoặc hõm sâu không theo quy tắc nào. Mặt ngoài màu vàng sữa lẫn lộn với nhiều nốt màu nâu, sáng bóng. Phần trên dương vật tương đối nhỏ, phía sau to dần, cuối cùng có đeo hai tinh hoàn, có tổ chức cơ còn lại. Chất cứng, khó bẻ gãy, có mùi tanh hôi. Người ta thường dùng dây nhung buộc nó vào mảnh tre để bảo vệ. Bào chế bằng cách ngâm rượu một đêm, lấy giấy bọc lại nướng trên lửa nhỏ cho giòn, giã nhỏ để dùng.

Vì giá thành của thận hải cẩu rất đắt nên các bộ phận sinh dục của chó, bò, lừa đực và buồng trứng (noãn nang, âm nang) của bò cái cũng được sử dụng thay thận hải cẩu. Khi bảo quản thường bỏ chung với thục tiêu hay chương não.

Thông tin Thận hải cẩu:

Tên Việt Nam: Thận hải cẩu, thận chó biển. Tên khác: Cốt nột, Hải cẩu thận (Bản Thảo Cương Mục), A từ bột tha (Bản Thảo Thập Di), Cốt nột, Cốt nột, Nột thú (Hòa Hán Dược Khảo), Cốt nột tề (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tên khoa học: Callorhinus ursinus L Otaria ursiuns Gray. Họ khoa học: Otariidae. Tiếng Trung: 海 狗 腎 Hải cẩu ( Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ….)

Hình ảnh Thận hải cẩu
Hình ảnh Thận hải cẩu

Mô tả Thận hải cẩu :

Hải cẩu thận là động vật có xương sống thuộc bộ chân màng (Pinnipedia), sống quần thể ở trên biển, hình giống Chó có râu mép, tứ chi làm thành dạng như bơi chèo, đuôi ngắn nhỏ, thích hơi ở trên băng, cơ thể dài tới 3,8m, con cái thấp và ngắn bằng phần nửa con đực, chi sau có khả năng cử động, cổ dài, thân phủ lông, đa thê (một con đực có thể sống với 30-80 con cái) sống tới 15-18 năm, lúc nhỏ lông màu đen, lần lần trưởng thành thì biến thành màu nâu, có chấm điểm đen xanh, ở vùng bụng lông trắng động tác nhanh nhẹn, cảm giác nhạy bén.

Địa lý:

Phân bố chủ yếu ở miền lạnh Bắc cực và Nam cực.

Phân biệt Hải cẩu thận:

Ngoài con trên ra, người ta cho là tốt nhất. Nhưng trong bộ Chân màng (Pinnipedia) gồm những loài thú ăn thịt có kích thước trung bình hay lớn, có cấu tạo thích nghi với đời sống ở nước. Cơ thể hình thoi dài, cỗ ngắn không phân biệt rõ với thân. Chi biến thành hơi chèo, móng tiêu giảm hau hoàn toàn tiêu biến. Lông cũng tiêu giảm nhiều, có lớp mỡ dưới da dầy, có tác dụng cách nhiệt và là, giảm tỷ trọng con vật.

Răng giống răng của thú ăn thịt, song có khuynh hướng tiêu giảm tiến tới chỗ đồng nha (isodontia), răng thịt không phân hóa, các răng khác chỉ có tác dụng giữa mồi (bắt mồi và nuốt). Vành tai thiếu. Thị giác kém phát triển, song khiếu giác rất tinh vi. Tinh hoàn nằm ở trong xoang bụng-tử cung 2 sừng-Nhau ống. Phần lớn cuộc đời trong nước, chỉ lên cạn sinh đẻ và thay lông. Bộ chân màng này gồm chừng 30 loài.

Ngoài Báo bể (Otariidae) ra còn có Hải báo còn gọi là Báo biển Phoca vitulina L. (Phoca foetida) họ Phocidae, cơ thể dài tới 1,2-6m, có chi sau duỗi thẳng không cử động được, lông thưa cổ ngắn, và Hải tượng còn gọi là Voi bể Trichechus rosmarus (Odolenus rosmarus Linn) họ Odobenidae, bàn chân sau có thể gập được xuống dưới thân, lông thưa, đặc biệt có răng nanh lớn để tự vệ và dùng để móc vào đá để leo lên cạn, đều được người ta dùng như là Hải cẩu.

Thu bắt :

Hải cẩu đều có thể thu bắt khắp 4 mùa, nhưng thường hay thu hoặch về mùa hè. Hàng năm vào tháng 5-6, thường hay lên khu bờ biển tìm nơi nơi ở để tiến hành giao phối, sức giao phối của loài này cực mạnh, vì vậy lúc ấy bắt dễ nhiều. Sau khi bắt được con đực, treo cao hai chân trước lên, làm hai chân sau duỗi thẳng xuống, sau đó cắt rặch rồi dải phẫu một đường dưới rốn xuống lấy ra cơ quan sinh dục và cả 2 tinh hoàn (khi cắt biểu hiện màu đỏ của thịt, phía trên cuối của thận có thân mao màu nâu đỏ), kéo ra được rồi bóc tách mỡ cho hết lấy tinh hoàn và dương vật treo nơi mát chỗ thông gió, đặc biệt tránh phơi ngoài nắng.

Phần dùng làm thuốc: Dương vật và tinh hoàn (Penis Et Testis Callorhini).

Mô tả dược liệu thận chó biển:

Thận, tinh hoàn Hải cẩu khô biểu hiện hình nhánh dài, phần gốc có đeo hai tinh hoàn hình tròn dẹt, người ta thường dùng dây nhung buộc nó vào ở trên một mảnh tre mỏng để bảo vệ dược liệu, dài chừng 20cm, rộng chừng 10mm-13mm, dương vật khô teo có rãnh nhăn hoặc sâu hõm không qui tắc, mặt ngoài màu vàng sữa lẫn lộn với nhiều nốt màu nâu, sáng bóng, trước mút dương vật tương đối nhỏ, phía sau to dần, cuối cùng có đeo hai tinh hoàn bên ngoài biểu hiện bóng sáng màu nâu vàng, giữa dương vật và tinh hoàn có tổ chức cơ còn lưu lại, chất dương vật cứng khó bẻ gẫy, có mùi hôi tanh.

Bào chế Thận hải cẩu

Về thành phần hoạt chất, hải cẩu thận có các chất thuộc nhóm androsterol, protein và lipid. Có tác dụng hưng phấn tăng lực, tăng dục tính. Theo Đông y, thận chó biển vị mặn, tính nhiệt; vào can, thận. Tác dụng ôn thận, tráng dương, ích tinh. Dùng cho các trường hợp liệt dương di tinh, đau lưng mỏi gối. Liều dùng, cách dùng: 3-10g; bằng cách nấu, ninh hầm, ngâm ướp. Xin giới thiệu món ăn thuốc từ thận chó biển.

thận chó biển tán: hải cẩu thận 10g, ngô thù du 10g, cam tùng 10g, tần bì 10g, cao lương khương 10g. Tất cả sấy khô tán mịn. Mỗi lần uống 2g, ngày 3 lần, uống với chút rượu hoặc nước ấm. Dùng tốt cho nam giới bị liệt dương di tinh.

Rượu thận chó biển nhân sâm: hải cẩu thận một bộ, nhân sâm 15g, sơn dược 30g, rượu 1.000ml. thận chó biển rửa sạch, ngâm trong rượu, đun sôi, rồi đem thái lát. Tất cả cùng ngâm rượu trong 7 ngày. Mỗi lần uống 2 thìa canh nhỏ (10-15ml), ngày 2 lần. Dùng tốt cho nam giới di tinh liệt dương, thần kinh suy nhược.

Cháo thận chó biển: hải cẩu thận 20g, gạo tẻ 50g vo sạch. Hải cẩu thận thái lát, đem nấu cháo cùng với gạo tẻ, cháo được thêm mắm muối gia vị. Ăn vào bữa sáng. Dùng tốt cho nam giới bị liệt dương, vô sinh, tiêu chảy sớm mai (ngũ canh tả) ở người cao tuổi, người địa tạng tỳ vị hư.
Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng, hàn thấp đều không được dùng.

Cùng tác giả trên:

000

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *