Chia sẻ:

Ngưu tất có tác dụng dược lý thế nào? Sử dụng hiệu quả ra sao?

Ngưu tất còn được gọi là cây cỏ xước, đây là loại cây thuốc ngưu kinh có nguồn gốc từ trung quốc và hiện được trồng nhiều ở vùng núi – trung du ở các tỉnh phía bắc. Cây cỏ xước có nhiều giá trị y học đáng quý, được áp dụng trong phòng và trị nhiều bệnh về khớp và hoạt huyết.

Cỏ xước, hoài ngưu tất , Nhiều tài liệu y học còn ghi nhận các tên khác như Bách bội (Bản Kinh), Ngưu kinh (Quảng Nhã), Thiết Ngưu tất (Trấn Nam Bản Thảo), Thổ ngưu tất (Bản Thảo Bị Yếu), Hồng ngưu tất (Giang Tây, Tứ Xuyên), Xuyên ngưu tất, Ngưu tịch, Tiên ngưu tất, (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Tên dược: Radix Achyranthis bidentatae; Radix cyathulae.

tên khoa học: Achyranthes bidentata Blume, thuộc họ Rau dền – Amaranthaceae.

Tiếng trung: 牛 膝

Ngưu tất còn được gọi là cây cỏ xước
Ngưu tất còn được gọi là cây cỏ xước

Cây Ngưu tất:

(Mô tả, hình ảnh cây ngưu tất, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)
cây Ngưu kinh
Mô tả:
Cây thân thảo sống nhiều năm, cao 60-110cm. Rễ củ hình trụ dài. Thân có 4 cạnh, phình lên ở các đốt như gối trâu lên gọi là cở xước,
Lá mọc đối, hình trái xoan bầu dục cỡ 15x5cm, nhọn hai đầu, mép lượn sóng, có lông thưa hay không lông; gân phụ 5-7 cặp; cuống ngắn 1-3cm. Cụm hoa hình bông mọc ở ngọn thân hoặc đầu cành; hoa ở nách những lá bắc.
Quả bế hình bầu dục, chứa một hạt hình trụ.
Hoa tháng 5-9, quả tháng 10-11.

Lưu ý phân biệt:

Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá. Hiện ta đang trồng giống Ngưu kinh di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm Ngưu kinh được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Nhìn bề ngoài, Cỏ xước không xanh tốt, mượt mà như Ngưu tất vì Ngưu kinh là cây trồng được chăm sóc cẩn thận hơn. Điều khác biệt rõ nhất là phiến lá Ngưu kinh to hơn và tù hơn, còn lá Cỏ xước gầy và nhọn hơn. Để phân biệt nhanh chóng, khi gặp cây Cỏ xước, nhổ lên xem rễ. Rễ Cỏ xước rất nhiều rễ con, rễ cái bị gỗ hoá. Còn rễ cỏ xước ít rễ con hơn, rễ cái nạc và dài như chiếc đũa.

Phân bố:

Hoài Ngưu kinh chủ yếu sản xuất ở Hà Nam; Xuyên Ngưu kinh chủ yếu sản xuất ở Tứ xuyên, Vân Nam, Quý Châu trung quốc, cây được di thực vào việt nam, trồng được cả ở núi cao lẫn đồng bằng.
Cây Ngưu tất ở Việt Nam gọi là cây cỏ xước, loại này nhỏ hơn Ngưu kinh di thực

Ngưu tất trồng được cả ở núi cao lẫn đồng bằng
Ngưu tất trồng được cả ở núi cao lẫn đồng bằng

Thu hái chế biến:

Bộ phận dùng: Rễ cây

Rễ cỏ xước, vào mùa Đông lá thân khô héo đào lấy, bỏ sạch rễ râu, đất, sau khi phơi đến nhăn khô, dùng Lưu h hun vài lần, sau đó cắt đều đầu nhọn, phơi khô và cắt thành lát mỏng. .

mùa Đông lá thân khô héo đào lấy, bỏ sạch rễ râu
mùa Đông lá thân khô héo đào lấy, bỏ sạch rễ râu

Thành phần hoá học:

Vị thuốc ngưu tất

Rễ củ chứa saponin tritecpenoid (sau khi qua nước thủy phân thành oleanolic acid và đường), genin là acid oleanolic, các sterol ecdysteron, inokosteron, glucoza, polysaccharide, muối kali. ..

cỏ xước còn hàm chứa arginine (Arg) v.v… 12 lọai amino acid và alkaloids, hợp chất coumarins v.v… và nguyên tố vi lượng sắt, đồng v.v…

Rễ củ chứa saponin tritecpenoid
Rễ củ chứa saponin tritecpenoid

Tác dụng dược lý:

+ Theo một số nghiên cứu cỏ xước có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp protein.
+ Dịch chiết Cồn Ngưu kinh có tác dụng ức chế tim ếch cô lập, làm giảm mạch hạ áp, hưng phấn tử cung có thai hoặc không có thai.
+ Thuốc còn có tác dụng lợi tiểu, làm hạ đường huyết, cải thiện chức năng gan, hạ cholesterol máu.
+Tổng saponin Ngưu kinh có tác dụng hưng phấn rõ rệt đối với cơ trơn tử cung, chất chiết benzene
+Hoài ngưu tất có tác dụng chống sinh sản, chống lại quá trình cấy (đưa phôi vào tử cung) và chống mang thai sớm, thành phần hữu hiệu chống sinh sản là ecdysterone.
+Chất chiết cồn Ngưu kinh có tác dụng ức chế tim động vật nhỏ thực nghiệm, thuốc sắc đối với cơ tim chó gây mê cũng có tác dụng ức chế.
+ Thuốc sắc và dịch chiết cồn có tác dụng lợi niệu độ nhẹ và giáng áp ngắn tạm thời, và có hưng phấn hô hấp.
+ Hoài ngưu tất có khả năng làm giảm độ dính của máu ở chuột lớn, tỷ lệ thể tích huyết cầu, chỉ số tụ tập hồng huyết cầu, và có tạp dụng chống đông.
+ Ecdysterone có tác dụng giáng mỡ, và có thể giáng thấp đường huyết rõ rệt. cỏ xước có tác dụng chống viêm, trấn thồng (giảm đau), có thể đề cao công năng miễn dịch cơ thể. Thuốc sắc có tác dụng ức chế đối với ống ruột rời cơ thể của chuột con, có tác dụng co rút mạnh đối với ống ruột chuột lang (Trung dược học).

Vị thuốc ngưu tất là rễ đã chế biến phơi khô của cây Ngưu tất

Ngưu tất Trong Dược điển Việt Nam
Ngưu tất Trong Dược điển Việt Nam

Cỏ xước có thể dùng thay cho Ngưu tất nhưng tác dụng kém nhiều so với Ngưu tất, có lẽ cũng vì vậy mà Dược điển Việt Nam chỉ nêu cây Ngưu tất di thực mà chưa ghi Cỏ xước (hoặc Nam Ngưu kinh).
Tính vị:
Vị đắng, chua và tính ôn.
Vị thuốc cỏ xước
Qui kinh:
Can và Thận.

Công năng:

Xuyên cỏ xước chế muối
Hoạt huyết, trừ ứ bế và điều kinh. Bổ can, thận, khoẻ cơ gân, lợi tiểu, chống loạn tiểu tiện. Làm thuốc dẫn (sứ dược) cho các bài thuốc trị bệnh phần dưới cơ thể -Tăng tưới máu cho phần dưới cơ thể.
Liều dùng:
12-20g
Chống chỉ định:
+ không dùng cỏ xước cho thai phụ hoặc ra nhiều kinh nguyệt.
+ Ghét Hùynh hỏa, Qui giáp, Lục anh. Sợ Bạch tiền
+ Ngưu kinh có tính hoạt, không dùng cho người di tinh, mộng tinh

Tăng tưới máu cho phần dưới cơ thể
Tăng tưới máu cho phần dưới cơ thể

Ứng dụng lâm sàng của Ngưu tất

Ứ máu biểu hiện như vô kinh, ít kinh, loạn kinh và đau do chấn thương ngoài:
Dùng phối hợp ngưu tất với táo nhân, hồng hoa, đương qui và diên hồ sách.
Can và thận kém biểu hiện như đau và yếu vùng thắt lưng và chân:
Dùng bài cỏ xước tán ( Y Phương Hải Hội-Lê Hữu Trác):
Bổ cốt chỉ, Đỗ trọng, Hồ lô ba, cỏ xước, nhục thung dung, phòng phong, tật lê, thỏ ty tử, tỳ giải đều 40g, Nhục quế 20g
Dùng cật heo nấu với rượu, giã nát luyện với thuốc làm hoàn.
Giãn mạch máu quá mức biểu hiện như nôn ra máu và chảy máu cam:
Dùng phối hợp Ngưu kinh với tiểu kế, trắc bách diệp và bạch mao căn.
Âm suy và dương vượng dẫn đến phong can nội chạy lên trên biểu hiện như đau đầu, hoa mắt và Chóng mặt:
Dùng phối hợp cỏ xước với đại giả trạch, mẫu lệ và long cốt dưới dạng trấn can tức phong thang.
Âm suy và vương hỏa biểu hiện như loét miệng và sưng lợi:
Dùng phối hợp Ngưu kinh với sinh địa trùng và tri mẫu.
Rối loạn đường niệu biểu hiện như đi tiểu đau, đái ra máu và nước tiểu ít:
Dùng phối hợp Ngưu kinh với thông thảo, hoạt thạch và cù mạch dưới dạng ngưu tất thang.

Trị chứng tê thấp khớp đau:

cỏ xước phối hợp với Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ trị thấp khớp như các bài:
Dùng Ngưu kinh phối hợp với Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ như các bài: Tam diệu tán (hoàn) ( Y học chính truyền): Thương truật 12g, Xuyên Ngưu tất 12g, Hoàng bá 8g, tán bột mịn trộn đều mỗi lần uống 10g, ngày 3 lần với nước gừng.

Tứ diệu hoàn (Thanh phương tiện độc) gồm Ngưu tất gia Mộc qua, Phòng kỷ, Tỳ giải

cỏ xước phối hợp với Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ trị thấp khớp
cỏ xước phối hợp với Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ trị thấp khớp

Trị tử cung xuất huyết cơ năng:

Dùng Xuyên Ngưu tất mỗi ngày 30 – 45g sắc uống. uống liên tục 2 – 4 ngày hết xuất huyết, trường hợp xuất huyết lâu ngày, uống tiếp thêm 5 – 10 ngày cũng cố

Trị các chứng kinh nguyệt khó, kinh nguyệt thất thường và đau khi có kinh ở những phụ nữ

Dùng: Ngưu tất 9g, Quế chi 9g, Thược dược 9g, Đào nhân 9g, Đương qui 9g, Mẫu đơn bì 9g, Diên hồ sách 9g, Mộc hương 3g.

Trị tiểu tiện không thông, phụ nữ huyết bị kết, bụng và lưng đau. ,

Dùng Cam thảo 40g , Địa cốt bì 40g , Hải đồng bì 80g , Khương hoạt 40g , Ngưu tất . 40g , Ngũ gia bì 40g , Sinh địa 400g , Xuyên khung 40g , Ý dĩ nhân 40g .

Tán bột. Bọc vào lụa mỏng, ngâm rượu 27 ngày

Mỗi ngày uống 1 chung (10ml) đến 4 chung nhỏ.

Mỗi ngày uống 1 chung
Mỗi ngày uống 1 chung

Một số bài thuốc có Ngưu tất làm chủ dược

Bài thuốc Tráng dương

Bài thuốc Tráng dương, tán hàn, trừ phong thấp, mạnh gân cốt, hòa huyết mạch. Trị lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, chóng mặt, hoa mắt, tay chân lạnh của Triệu cát trong thánh tễ tổng lục:
Đan sâm …………15g
Đỗ trọng ……….. 30g
Đương quy ……. 30g
Hổ cốt …………. 45g
Kim anh ………… 15g
Ngưu tất (Hoài) ……………. 15g
Ngưu kinh (Xuyên) ………….30g
Phòng Phong ……… 15g
phụ tử (chế) ….. 15g
Sinh địa ………..30g
Sơn thù ……….. 15g
Thạch Hộc ……… 15g
Tiên linh tỳ …… 30g
Tỳ giải ………….30g
Ý dĩ nhân ………. 30g
Giã nát, cho vào túi vải, để vào bình, ngâm với 3 lít rượu.
Mùa xuân, hạ: ngâm 7 ngày, mùa thu, đông: ngâm 9 ngày.
Mỗi ngày uống 2 ly, lúc bụng đói.

Ngưu tất tán:

Thuốc dùng trị các chứng kinh nguyệt khó, kinh nguyệt thất thường và đau khi có kinh ở những phụ nữ thể lực tương đối tố
Ngưu tất tán (Hải thượng lãn ông) :
Trị cước khí lưng đau, kinh nguyệt không đều.

cỏ xước dùng trị các chứng kinh nguyệt khó, kinh nguyệt thất thường
cỏ xước dùng trị các chứng kinh nguyệt khó, kinh nguyệt thất thường

Ngưu tất thang

(Tam Nhân Cực – Bệnh Chứng Phương Luận):
Trị tiểu tiện không thông, phụ nữ huyết bị kết, bụng và lưng đau.

Ngưu tất hoàn (Loại Chứng Hoạt Nhân Bản Sự Phương)

Nhục Thung Dung Ngưu Tất Hoàn
(Trương Nhuệ) : Bổ thận, chấn tinh, cường cân, tráng cốt. Trị hạ nguyên bất túc

Loại Chứng Hoạt Nhân Bản Sự Phương
Loại Chứng Hoạt Nhân Bản Sự Phương

Bài thuốc Trị sản hậu đùi (chân) đau.

Thẩm Thị Tôn Sinh Thư.
Thẩm Kim Ngao
Vị thuốc:
Bạch thược
Cam thảo
Câu kỷ tử
Hoàng bá
Mộc qua
Ngưu tất
Sinh địa
Thạch hộc
Toan táo nhân
Xa tiền tử
Lượng bằng nhau. Sắc uống.

Ngưu tất và cỏ xước

Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá, Nhìn bề ngoài, Cỏ xước không xanh tốt, mượt mà như Ngưu kinh vì Ngưu kinh là cây trồng được chăm sóc cẩn thận hơn.

Điều khác biệt rõ nhất là phiến lá Ngưu tất to hơn và tù hơn, còn lá Cỏ xước gầy và nhọn hơn. Để phân biệt nhanh chóng, khi gặp cây Cỏ xước, nhổ lên xem rễ. Rễ Cỏ xước rất nhiều rễ con, rễ cái bị gỗ hoá. Còn rễ Ngưu kinh ít rễ con hơn, rễ cái nạc và dài như chiếc đũa. Ở nước ta, cây cỏ xước trồng ít khi cao quá 1m.

Cỏ xước chủ yếu sản xuất ở Hà Nam
Cỏ xước chủ yếu sản xuất ở Hà Nam

Đặc tính nhận diện.

Thân thảo hơi gầy và hơi vuông, phân thành đốt, phình ra ở hai đầu trông giống như đầu gối con trâu nên có tên là Ngưu tất. Lá mọc đối, có cuống, dài từ 5cm – 10cm, phiến lá hình trứng đầu nhọn. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá. Rễ gồm 1 hoặc 2, hoặc 3 rễ cái, chung quanh có rễ con. Rễ cái nạc, lúc đầu hơi giòn, màu trắng ngà, sau khi chế biến có màu hơi hồng, trong và mềm dẻo..

Hiện ta đang trồng giống Ngưu kinh di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Chia sẻ:


Bài viết cùng chuyên mục




Bài viết mới nhất


Bình luận bằng Facebook

Để lại bình luận tại đây:

SẢN PHẨM MỚI

0966.602.957