Chia sẻ:

Dây đau xương là thảo dược gì? Công dụng và cách dùng như thế nào?

Nghe tên dây đau xương chúng ta có thể hiểu ngay được công dụng của nó, chắc hẳn, tác dụng của cây Khoan cân đằng phải thật hiệu nghiệm, người ta mới đặt cho nó một cái tên như vậy.
Tên khác
Tên khác: Còn gọi là cây Khoan cân đằng, tiếng Trung Quốc có nghĩa là làm cho xương cốt được thư giãn khoẻ mạnh.

Tên khoa học: Tinospora sinensis Merr. (Tinospora tomentosa Miers, Timospora malabarica Miers, Menispermun malabarilum Lamk)

Họ khoa học: Thuộc họ Tiết đề Menispermaceae.

dây đau xương
dây đau xương

Cây dây đau xương

Mô tả, hình ảnh cây đau xương, thu hái, phân bố, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:
Cây đau xương là một cây thuốc nam quý dạng dây leo, dài 7-8cm có cành dài rũ xuống, lúc đầu có lông, sau thì nhẵn lớp vỏ không sần sùi. Lá cũng có lông nhất là ở mặt dưới làm cho mặt dưới có màu trắng nhạt, phần lá hình tim, phía cuốn tròn và hõm lại, phía đỉnh hẹp lại thành mũi nhọn, dài 10-20cm, rộng 8-10cm có 5 gân nhỏ, toả hình chân vịt.

Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đơn độc, hoặc mấy lá chùm tụ lại, chùm dài khoảng 10cm, có lông măng màu trắng nhạt, quả khi chín có màu đỏ, có dịch nhày, hình bán cầu.

Phân bố:
Mọc hoang khắp nơi ở miền núi cũng như đồng bằng ở Việt Nam.

Dây đau xương là một vị thuốc được lưu truyền nhiều trong nhân dân ở miền núi các tỉnh phía bắc, Tây Bắc đã được trồng rộng rãi trong nhân dân để chữa những triệu chứng của bệnh tê thấp, đau xương, nhức mỏi toàn thân, còn dùng làm thuốc bổ.

dây đau xương được Thu hái quanh năm
dây đau xương được Thu hái quanh năm

Cây mọc khoẻ, trồng bằng thân cây. Thu hái quanh năm.

Thành phần hoá học của dây đau xương

– Dây đau xương có chứa nhiều Ancaloit.

– Trong cây Khoan cân đằng, người ta đã tách và xác định cấu trúc một glucosid phenolic là tinosinen (I). (E) – 1 – (3 hydroxy – 1 – propenyl) – 3 – 5 – dimethoxyphenyl) 4 – 0 – beta – D apio furanosyl – (1 – 3) – beta – D glucopyranosid (CA, 122,1995 156312 b).
Trong cành người ta tìm thấy 2 chất dinorditerpen glucosid ; tinosinesid A và B. Tinosinesid A: [2S – (2alpha, 4a.alpha, 7beta, 9beta, 10beta, 10alpha.beta, 10b.alpha] – 10 acetoxy – 2 (3 furanyl) – 7 (beta – D – glucopyranosyloxy – dodecahydro – 4a, 9 – dihydroxy – 10b – methyl – 4H – naphto [2 – 1- C] pyra – 4 on. Tinosinesid B: (2 – 0 – acetyltinosinesid A)

Tác dụng dược lý

Dây đau xương có tác dụng ức chế hoạt tính gây co thắt cơ trơn của histamin và acetylcholin trong thí nghiệm ruột cô lập.

cây Khoan cân đằng có ảnh hưởng trên huyết áp động vật thí nghiệm, có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương biểu hiện trên các hiện tượng quan sát bên ngoài của động vật, có tác dụng hiệp đồng với thuốc ngủ, tác dụng an thần và lợi tiểu.

cây Khoan cân đằng tác dụng ức chế hoạt tính gây co thắt cơ trơn
cây Khoan cân đằng tác dụng ức chế hoạt tính gây co thắt cơ trơn

Vị thuốc

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính vị:
Dây đau xương có vị đắng, tính mát.

Quy kinh
Quy vào kinh can

Công dụng cây Khoan cân đằng:
Khu phong trừ thấp, thư cân hoạt lạc.

Dùng chữa những triệu chứng của bệnh tê thấp, đau xương, đau người, còn được dùng làm thuốc bổ.

Chủ trị:
Phong thấp tê bại, đau nhức cơ khớp.

Liều dùng dây đau xương:
– Dùng dưới dạng sắc nước 10-12g kết hợp với các vị thuốc khác

– Dùng ngoài xoa bóp, thân cây có tác dụng mạnh hơn.

Ứng dụng lâm sàng

Chữa sai khớp xương, bong gân (Hải Thượng Lãn Ông):
Lá dây đau xương, quế, hồi hương, đinh hương, vỏ sòi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, mủ xương rồng bà (Opuntia dillenii), lá thầu dầu tía, lá náng, lá kim cang, lá mua, huyết giác, củ nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế.

Bài thuốc phối cây Khoan cân đằng
Bài thuốc phối cây Khoan cân đằng

Các vị trên giã nhỏ, sao nóng và chườm.

Trị rắn cắn (Hải Thượng Lãn Ông):
Lácây Khoan cân đằng 20g, lá thài lài 30g, lá tía tô 20g, rau sam 50g. Dùng tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã đắp.

Thuốc thấp khớp:
– Cao bào chế từ 2 vị: dây đau xương, củ kim cang, lượng bằng nhau. Ngày uống 6g cao.
– Cao chế từ các vị cây Khoan cân đằng, độc lực, hoàng lực, thổ phục linh, huyết giác, lá lốt, bưởi bung, tầm xuân, hoàng nàn chế, kê huyết đằng, ngưu tất trị thấp khớp rất hiệu quả.

Trị đau lưng, mỏi gối do thận hư yếu:
Dây đau xương 12g, cẩu tích 20g, củ mài 20g, tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g, bổ cốt toái 16g, thỏ ty tử 12g, rễ cỏ xước 12g, củ mài 12g. Sắc hoặc ngâm rượu uống trị thận hư hiệu quả.

Chữa đau nhức xương khớp: viêm khớp vùng cổ và thắt lưng
1, Lấy dây đau xương giã nhỏ, trộn với ít nước đắp lên những chỗ đau nhức.

2, Thái nhỏ thân cây Khoan cân đằng, sao vàng ngâm rượu với tỷ lệ 1/5. Ngày uống 3 lần, mỗi lần một cốc nhỏ. Phụ nữ hoặc những người không uống được rượu, có thể sắc với nước uống. Thời gian 15-20 ngày.

» Nguồn tham khảo

» Thu gọn tham khảo

Chia sẻ:


Bài viết cùng chuyên mục




Bài viết mới nhất


Bình luận bằng Facebook

Để lại bình luận tại đây:

SẢN PHẨM MỚI

0966.602.957